Hotline 02256. 28 50 60

Thảo luận về biện pháp khắc phục sự cố tràn dầu trên biển Đông ở Việt Nam

Đăng lúc 15:04 PM ngày 30.03.2017 252

Những thiệt hại nặng nề của sự cố tràn dầu

Trở lại với sự kiện ngày 24/8/2006, tàu La Palmas (quốc tịch nước ngoài) có trọng tải 31.000 tấn, chuyên chở 23.000 tấn dầu DO trong lúc cập cảng Sài Gòn đã va vào cầu cảng và làm tràn hơn 1500 tấn dầu ra môi trường. Ngoài ra, còn có 150 tấn xăng tràn ra từ hệ thống ống dẫn của cầu cảng. Dù đã ứng phó sự cố kịp thời, nhưng chỉ sau 9 giờ, váng dầu đã lan rộng cách khu vực xảy ra sự cố 40- 50km theo phía hạ lưu sông Sài Gòn. Tiếp đó, do thủy triều lên, váng dầu bị đẩy ngược lên thượng lưu cách nơi xảy ra sự cố 4-5km. Sau 15 ngày, diện tích bị ảnh hưởng bởi tràn dầu là 60.000ha bao trùm một khu vực lớn dọc theo sông Sài Gòn, trong đó diện tích bị ô nhiễm nặng nhất là 40.000ha.

Tiếp đó, tháng 6/2009, tàu Nhật Thuần đã chìm sâu xuống biển Vũng Tàu sau khi bùng cháy trong khoảng 2 giờ liền. Theo Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tại thời điểm xảy ra tai nạn, trong tàu Nhật Thuần có chứa khoảng 1.795m3 dầu cặn và chất thải lẫn dầu...

Các sự cố tràn dầu thường để lại hậu quả rất nghiêm trọng làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, tài nguyên thủy sinh, tài nguyên nước, tài nguyên đất trên một khu vực khá rộng, gây thiệt hại đến các hoạt động kinh tế. Điều này đòi hỏi cần thiết phải có những biện pháp mang tính đồng bộ và hiệu quả để khắc phục tình trạng trên.

Biện pháp khắc phục sự cố tràn dầu tại Việt Nam

Ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam, các biện pháp thường được áp dụng để ứng phó sự cố tràn dầu đó là: cơ học, sinh học và hoá học. Đối với biện pháp cơ học, thực hiện quây gom, dồn dầu vào một vị trí nhất định để tránh dầu lan trên diện rộng. Sử dụng phao ngăn dầu để quây khu vực dầu tràn, hạn chế ô nhiễm lan rộng và để thu gom xử lý. Sau khi dầu được quây lại dùng máy hớt váng dầu (bơm hút dầu tràn) hút dầu lên kho chứa. Ưu điểm của biện pháp này là ngăn chặn, khống chế và thu gom nhanh chóng lượng dầu tràn tại hiện trường.

Ngoài ra, có thể áp dụng biện pháp hoá học khi có hoặc không có sự làm sạch cơ học và dầu tràn trong một thời gian dài. Cụ thể, sử dụng các chất phân tán; các chất phá nhũ tương dầu - nước; tấm và phao thấm dầu...để xử lý. Với biện pháp sinh học là dùng các vi sinh vật phân giải dầu như vi khuẩn, nấm mốc, nấm men... Tuy nhiên, khi xảy ra sự cố tràn dầu thì biện pháp cơ học được xem là tiên quyết cho công tác ứng phó sự cố tràn dầu tại các sông, cảng biển.

Ngoài ra, để việc ứng phó sự cố tràn dầu trên biển mang tính chuyên nghiệp đồng bộ, cần triển khai việc đóng tàu đa năng ứng phó sự cố tràn dầu trên biển. Đầu năm 2009, Công ty Đóng tàu Bảo Tín (quận Bình Thạnh - TP.HCM) và Công ty Hải Minh đã làm lễ khởi công đóng tàu đa năng ứng phó sự cố tràn dầu trên biển. Đây là tàu đa năng ứng phó sự cố tràn dầu trên biển lớn nhất miền Nam vào thời điểm này.

PGS. TS. Lê Hồng Hạnh nhấn mạnh, giải pháp chung cho vấn đề nêu trên là cơ quan bảo vệ pháp luật cần buộc người gây ô nhiễm môi trường trước hết phải thực hiện đầy đủ các biện pháp khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường. Trong trường hợp họ không thực hiện các biện pháp đó thì cơ quan quản lý nhà nước về môi trường sẽ xác định thiệt hại để người gây ô nhiễm phải bồi thường theo đúng quy định của pháp luật./.


Tin tức liên quan

Tin nổi bật

Văn bản pháp lý

Đối tác của chúng tôi